Giỏ hàng của bạn

Số sản phẩm: 0

Thành tiền: 0

Xem giỏ hàng

Thống kê

Đang online 14
Hôm nay 14
Hôm qua 7
Trong tuần 21
Trong tháng 105
Tổng cộng 210,662

 

Sơ lược về nấm linh chi đỏ giống Nhật Bản

 

 

 

 

 

Nấm linh chi, có tên khoa học là Ganoderma lucidum, thuộc họ Nấm lim (Ganodermataceae).

 

Các tên gọi khác: Tiên thảo, Nấm trường thọ, Vạn niên nhung. Nấm linh chi phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương và châu Mỹ.

 

Môi trường sống của nấm linh chi thường ở rừng kín xanh ẩm, độ cao từ vài chục mét đến 1500m. Nấm linh chi sinh sản chủ yếu bằng bào tử nằm ở mặt dưới của thể quả. Phần có chức năng sinh dưỡng chính của nấm linh chi là hệ sợi của nấm mọc ẩn trong gỗ mục hoặc đất.

 

Trong lịch sử đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm cách gây giống và trồng loại nấm linh chi nhưng đều không thành công.

 

Đến năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Zenzaburo Kasai và Yukio Naoi, giáo sư của đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống nấm linh chi, từ đây người ta bắt đầu trồng được nấm linh chi một cách qui mô.

 

Ngày nay, thế giới hàng năm sản xuất được khoảng 4.300 tấn nấm linh chi. Trong đó Trung Hoa trồng khoảng 3000 tấn còn lại là các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Sri Lanka và Indonesia. Nhật Bản trồng khoảng 500 tấn mỗi năm, đứng sau Trung Hoa.

 

Vậy Linh chi Đỏ giống Nhật là gì ?

 

Linh chi đỏ giống Nhật là loại nấm có nguồn giống được nhập khẩu trực tiếp từ Nhật bản và phải được bảo quản, cấy ghép, nuôi trồng theo đúng quy trình kỹ thuật và môi trường khắt khe theo đúng tiêu chuẩn bảo quản của phía nhà cung cấp từ Nhật bản, để đảm bảo nguồn giống giữ được chất lượng và hiệu suất hoạt động tốt nhất, cũng như có thể sản xuất ra những sản phẩm linh chi tương tự như được nuôi trồng ở Nhật từ hình dáng đến cả chất lượng sản phẩm ngay tại Việt Nam.

 

Tác dụng của nấm linh chi Việt Nam giống Nhật Bản

 

 

Theo những tài liệu cổ như Bản thảo cương mục (của Lý Thời Trần), Thần nông bản thảo, Trung dược học... Nấm Linh chi đã được xếp vào loại Thượng đẳng dược.

 

Các loại Linh chi đều có tính chất bổ ích khí huyết, bồi dưỡng ngũ tạng suy nhược hư lao, ích trí, dưỡng tâm, an thần, bình suyễn, tăng trí tuệ, dùng trị các bệnh thuộc ngũ tạng, lục phủ, cơ nhục, xương khớp..., dùng lâu sẽ được “diên niên ích thọ”, thân thể nhẹ nhàng, tinh thần hoà lạc, sảng khoái. Nấm Linh chi bình hoà vô độc, nên dùng một thời gian dài liên tục mới thấy hiệu quả rõ rệt.

 

Theo những nghiên cứu gần đây, tác dụng của nấm linh chi Việt Nam giống Nhật Bản có những đặc tính chung sau đây :

 

Cải thiện sự hấp thu chuyển hoá trong dinh dưỡng. Điều hoà chức năng tạng phủ.​

 

Tăng cường sự thích nghi của cơ thể đối với những biến động trong môi trường sống.

 

Tăng sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật. Kể cả các bệnh nan y như ung thư...

 

Giải độc toàn thân, giúp cơ thể thải nhanh các chất độc, kể cả các kim loại nặng, chất độc hoá học, độc của các loại khuẩn... Bảo vệ cơ thể, chống ảnh hưởng các tia chiếu xạ.

 

Cân bằng nội tiết tố trong cơ thể, chống viêm, chống dị ứng...

 

Nâng cao tuổi thọ, bổ não, chống lão hoá của tế bào nhất là tế bào não, nên được dùng điều trị chứng kém trí nhớ, hội chứng lú lẫn của tuổi già.

 

Linh chi không có độc tính, không gây tác dụng phụ, dù cho dùng thời gian dài, lại không tương kỵ với các dược liệu Đông, Tây y khác.
 

Tác dụng của nấm linh chi Việt Nam giống Nhật Bản đã được minh chứng trong việc ứng dụng lâm sàng:

Hỗ trợ điều trị các bệnh viêm gan: Viêm gan, gan nhiễm mỡ, ngăn chặn và hỗ trợ điều trị xơ gan.

 

Hỗ trợ điều trị các bệnh về hô hấp: Điều trị và ngăn chặn các cơn hen suyễn do di truyền hoặc do môi trường. Trị viêm phế quản mạn tính. Bồi bổ cho bệnh nhân lao phổi, u xơ phổi.

 

Các bệnh về tuần hoàn: Bổ tim, thông mạch. Điều trị xơ cứng mạch máu. Cao huyết áp (cần dùng thời gian dài mới hữu hiệu). Động mạch nhiễm mỡ. Trị chứng Cholesterol máu cao (làm tan mỡ bám trong thành mạch).

 

Các bệnh về tiêu hoá : Điều trị rối loạn tiêu hoá, loét dạ dầy, tá tràng, viêm đại tràng, kích thích tiêu hoá, kích thích ăn uống ngon miệng. Ngăn ngừa sự hình thành và phát triển khối u.

 

Các bệnh về hệ thống bài tiết: Điều trị tiểu đường, sỏi thận , bí tiểu tiện, táo bón...

 

Các bệnh về hệ thống thần kinh: Điều trị suy nhược thần kinh, mất ngủ kéo dài, ngủ không ngon giấc, mộng mị hoang tưởng, suy nhược sinh lý, di, mộng tinh.

 

Các di chứng tai biến mạch máu não. Nhược cơ, trị các bệnh về khớp, thần kinh... Chống đau nhức gân xương.

 

Các bệnh ung thư, u bướu: Trị bệnh xơ cứng bì, bệnh Luput ban đỏ, ban trọc bướu cổ. Lượng Polysacharit (chất đa đường) trong Linh chi có chức năng chống ung thư, điều chỉnh miễn dịch, chống lão hoá...

 

Ngoài ra còn nhờ các chất Triterpen, Germanium... nên có thể hỗ trợ điều trị bệnh ung thư ở mọi thời kỳ, vì nó có chức năng ức chế, phá hoại, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, thúc đẩy sự suy vong của chúng. Có thể dùng một cách đơn độc, hoặc dùng hỗ trợ với xạ trị, hoá trị hoặc phẫu thuật, tăng hiệu lực chữa lành cho những phương pháp này và giảm thiểu các tác dụng phụ của nó, như mệt mỏi tiều tuỵ, gầy mòn, chán ăn, đau nhức mất ngủ... phòng ngừa sự tái phát di căn sau phẫu thuật (Theo nghiên cứu chế độ ăn uống thảo mộc trị bệnh của Ming De Men, Y học Nhiệt đới / Hoa Kỳ ung thư tự nhiên liệu pháp của Hoàng Diễn Cường và cộng sự / Trung Quốc).

 

Nấm Linh chi có nhiều chất Germanium hữu cơ hơn các loài thảo mộc khác - cao gấp 5 đến 8 lần Nhân sâm. Chất này giúp khí huyết lưu thông, các tế bào hấp thu oxi tốt hơn. Chất Germanium còn là một loại bán dẫn, nó có thể điều chỉnh hiệu điện thế điển hình cao hơn hiệu điện thế bình thường, vì thế nó có thể làm sạch hiệu thế ung thư trong cơ thể (theo Ming De Men TM/Hoa Kỳ).

 

Tại Hoa Kỳ nhiều Viện bào chế đã chiết xuất Linh chi lấy tinh chất làm thành một dược liệu dưới dạng cao khô, có tên là China Ganoderma lucidum Extract, để đặc trị ung thư rất có hiệu quả, nhưng giá thành lại quá cao so với các nước đang phát triển. Theo kinh nghiệm lâm sàng thì dùng cách uống trực tiếp nước sắc hoặc bột Linh chi vẫn có hiệu quả.

 

Đối với một số bệnh nhân nhiễm HIV: Bệnh viện The Quanyn Clinic ở San Francisco đã hỗ trợ điều trị một số bệnh nhân nhiễm HIV có những kết quả tích cực bước đầu (1978). Được cơ quan quản lý Thực Dược phẩm (FDA) Hoa Kỳ cho phép sử dụng trong khi chờ các loại thuốc khác công hiệu hơn ra đời (Theo tài liệu của Thạc sĩ Cỗ Đức Trọng sưu tập).